Khác biệt dễ thấy nhất giữa các loài ong dú là kích thước. Và nó kéo theo nhiều thứ khác hơn người ta tưởng.
Con ong nhỏ hay lớn quyết định chúng ăn được hoa nào, gom được bao nhiêu, và cần chăm ra sao.
Ong nhỏ, vòi ngắn thì vào được những bông hoa li ti mà loài lớn hơn không khai thác được.
Ngược lại loài lớn hơn tiếp cận được nhiều loại hoa hơn và mỗi chuyến mang về nhiều hơn.
Nghĩa là hai loài trong cùng một khu vườn thực ra ăn ở những nguồn hơi khác nhau.
Điều này giải thích vì sao ở vườn nhiều hoa dại li ti thì loài nhỏ lại cho kết quả tốt hơn.
| Yếu tố | Loài nhỏ | Loài lớn hơn |
|---|---|---|
| Loại hoa khai thác | Hoa li ti là chính | Đa dạng hơn |
| Lượng mỗi chuyến | Ít | Nhiều hơn |
| Bán kính bay | Hẹp hơn | Rộng hơn chút |
| Số quân trong đàn | Tuỳ loài | Tuỳ loài |
| Chịu nắng nóng | Kém hơn do thân nhỏ | Khá hơn |
| Dễ bị kiến tấn công | Cao hơn | Chống trả tốt hơn |
Nghe hợp lý là loài lớn cho nhiều mật hơn, nhưng thực tế không đơn giản vậy.
Sản lượng phụ thuộc vào số quân trong đàn, hiệu quả khai thác nguồn hoa sẵn có, và khả năng chịu được điều kiện của vùng.
Một đàn loài nhỏ đông quân, khai thác đúng nguồn hoa quanh đó, có thể cho nhiều hơn một đàn loài lớn mà thưa quân và không hợp vùng.
Vì vậy đừng chọn loài theo kích thước, mà theo việc loài đó có hợp với vườn nhà mình không.
Loài nhỏ thân mỏng nên chịu nắng nóng kém hơn. Ở Đông Nam Bộ thì nắng chiều mùa khô gắt, thùng đặt nơi trống dễ quá nhiệt, nên phần che nắng càng quan trọng với loài nhỏ.
Loài nhỏ cũng yếu thế hơn khi kiến tấn công, nên chống kiến phải kỹ hơn.
Loài lớn hơn thì chống trả tốt hơn và chịu xáo trộn khá hơn, nhưng cần thùng rộng hơn khi đàn phát triển.
Về cơ bản thì cách chăm giống nhau, chỉ khác ở mức độ cẩn thận với vài khâu.
Đây là tiêu chí thực tế nhất.
Đi một vòng bán kính vài trăm mét quanh nhà và nhìn xem hoa gì chiếm phần lớn.
Nếu chủ yếu là hoa dại li ti và cây bụi thì loài nhỏ khai thác hiệu quả.
Nếu có nhiều cây ăn trái hoa lớn hơn thì loài lớn hơn có lợi thế.
Ở Đông Nam Bộ, nguồn chính gồm tràm, điều, cao su, và loài loài thân nhỏ màu đen, làm tổ trong hốc cây và vách tường cũ đã quen khai thác đúng những nguồn đó.
Có người nuôi cả hai loài trong một trại để tận dụng nguồn hoa khác nhau.
Việc này khả thi nhưng cần lưu ý: đặt tách khu, đừng để tổ hai loài sát nhau.
Ghi rõ loài trong sổ để tránh nhầm khi tách hay ghép đàn, vì hai loài khác nhau thì không ghép được.
Và đừng so sánh trực tiếp sản lượng giữa hai loài, vì mỗi loài có mức bình thường riêng.
Không chắc. Sản lượng phụ thuộc số quân và nguồn hoa nhiều hơn kích thước.
Cần kỹ hơn ở khâu che nắng và chống kiến, còn lại tương tự.
Có phần nào, nhưng chúng khai thác những nguồn hơi khác nhau.
Xem hoa gì chiếm phần lớn trong bán kính vài trăm mét quanh nhà.
loài thân nhỏ màu đen, làm tổ trong hốc cây và vách tường cũ, vì đã quen khai thác nguồn hoa tại chỗ.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Cái tên ong dú thực ra gộp chung nhiều loài khác nhau. Vì sao điều này lại quan trọng với cả người định nuôi lẫn người đi mua tổ.
Không cần dụng cụ gì vẫn nhận ra được khác biệt giữa các loài. Những dấu hiệu quan sát được ngay ở cửa tổ và trên con ong.
Loài đã sống ở vùng mình từ lâu có những lợi thế mà loài mang từ nơi khác tới không thể có. Lý do đằng sau và cách chọn cho đúng.
Bên trong tổ thì mỗi loài sắp xếp theo một kiểu riêng. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới cách thu mật và cách chọn thùng nuôi.
Có loài rất hiền, có loài bu nhiều khi bị động tới tổ. Những khác biệt về tập tính mà người nuôi nên biết trước khi bắt đầu.
Ong dú có chúa nhưng cách nhìn thấy và cách quản lý khác hẳn ong mật. Những điều người nuôi cần biết để khỏi áp nhầm kinh nghiệm.
Các loài ong dú bản địa Việt Nam: đặc điểm nhận dạng, phân bố theo vùng, tập tính khác nhau giữa các loài, loài nào hợp nuôi lấy mật và loài nào chỉ nên giữ giống. Thiên về kiến thức loài và sinh học.