Khi chọn giống, câu hỏi đầu tiên nên là loài nào đã sống ở vùng mình từ trước chứ không phải loài nào cho nhiều mật.
Loài bản địa có mấy lợi thế mà loài mang từ nơi khác tới không có.
Chúng đã sống qua nhiều thế hệ ở đúng điều kiện của vùng: hai mùa rõ rệt, nắng gắt trong mùa khô, nhịp mùa, và nguồn hoa tại chỗ.
Nghĩa là chúng đã quen với tháng 1 đến tháng 3, quen với những đợt mưa dài, và biết khai thác đúng những loại hoa có sẵn.
Loài mang từ vùng khác tới thì phải làm quen tất cả những thứ đó, và không phải lúc nào cũng làm được.
Ở Đông Nam Bộ thì thực bì bị dọn hằng năm làm nguồn nền cạn và đàn hoang mất chỗ trú, và loài bản địa đã sống chung với điều đó từ lâu.
| Tiêu chí | Loài bản địa | Loài từ vùng khác |
|---|---|---|
| Thích nghi khí hậu | Đã quen | Cần thời gian, có khi không được |
| Khai thác nguồn hoa tại chỗ | Hiệu quả | Phải làm quen |
| Chịu đặc thù vùng | Tốt | Tuỳ mức chênh lệch |
| Nguồn giống | Dễ kiếm tại chỗ | Phải mang từ xa |
| Giá | Hợp lý hơn | Cao hơn, cộng phí chở |
| Rủi ro khi vận chuyển | Thấp | Cao hơn |
Không phải vì loài đó kém, mà vì điều kiện khác.
Loài quen vùng ẩm mang tới vùng khô thì thiếu nước và nguồn hoa không quen. Ngược lại cũng vậy.
Loài quen vùng ấm quanh năm mang lên vùng có mùa lạnh thì gần như chắc chắn suy.
Ngay cả khi sống được thì sản lượng cũng thường thấp hơn ở vùng gốc, vì chúng không khai thác hiệu quả nguồn hoa lạ.
Và rủi ro trong quá trình vận chuyển đường dài cũng cao hơn.
Ngoài lợi ích cho người nuôi, việc ưu tiên loài bản địa còn có ý nghĩa rộng hơn.
Nuôi loài bản địa thì nguồn giống lấy từ chính vùng đó, và nhân đàn cũng làm tăng số đàn trong vùng.
Mang loài lạ vào một vùng thì có thể ảnh hưởng tới quần thể sẵn có, dù mức độ thế nào thì chưa ai rõ.
Cách an toàn là nuôi loài đã có ở vùng mình, và nhân giống từ nguồn tại chỗ.
Ở Ong Dú Bản Địa, giống được nhân từ chính đàn trong vùng chứ không nhập từ xa.
Cách đơn giản nhất là hỏi người nuôi lâu năm trong vùng. Họ biết loài nào có sẵn từ trước.
Quan sát tổ hoang trong tự nhiên cũng cho biết: hốc cây, vách đất, tường nhà cũ.
Ở Đông Nam Bộ, loài phổ biến là loài thân nhỏ màu đen, làm tổ trong hốc cây và vách tường cũ.
Nếu trong vùng có nhiều loài cùng tồn tại thì cả hai đều là lựa chọn hợp lý, chỉ cần chọn loài mình dễ kiếm giống hơn.
Khi đã nuôi loài bản địa thành công ít nhất một hai năm.
Khi có nguồn giống đáng tin từ vùng khí hậu tương tự.
Khi chỉ thử một hai tổ, đặt tách khu, và theo dõi kỹ trong một năm.
Đừng chuyển hẳn sang loài mới chỉ vì nghe nói loài đó cho nhiều mật hơn. Con số đó thường đo ở vùng gốc của chúng chứ không phải ở vùng mình.
Tuỳ loài, nhưng ở chính vùng của chúng thì thường hiệu quả hơn loài lạ.
Rủi ro cao và có thể ảnh hưởng quần thể tự nhiên. Nên ưu tiên nguồn trong vùng.
Hỏi người nuôi lâu năm và quan sát tổ hoang trong tự nhiên.
Được nếu đặt tách khu và hiểu rõ từng loài.
Nhân từ chính đàn trong vùng chứ không nhập từ xa.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Cái tên ong dú thực ra gộp chung nhiều loài khác nhau. Vì sao điều này lại quan trọng với cả người định nuôi lẫn người đi mua tổ.
Không cần dụng cụ gì vẫn nhận ra được khác biệt giữa các loài. Những dấu hiệu quan sát được ngay ở cửa tổ và trên con ong.
Kích thước con ong kéo theo nhiều khác biệt khác: nguồn hoa khai thác được, sản lượng thu về, và cả cách chăm sóc hằng ngày.
Bên trong tổ thì mỗi loài sắp xếp theo một kiểu riêng. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới cách thu mật và cách chọn thùng nuôi.
Có loài rất hiền, có loài bu nhiều khi bị động tới tổ. Những khác biệt về tập tính mà người nuôi nên biết trước khi bắt đầu.
Ong dú có chúa nhưng cách nhìn thấy và cách quản lý khác hẳn ong mật. Những điều người nuôi cần biết để khỏi áp nhầm kinh nghiệm.
Các loài ong dú bản địa Việt Nam: đặc điểm nhận dạng, phân bố theo vùng, tập tính khác nhau giữa các loài, loài nào hợp nuôi lấy mật và loài nào chỉ nên giữ giống. Thiên về kiến thức loài và sinh học.