Bảo tồn nghe to tát, nhưng ở quy mô vườn nhà thì chỉ là vài việc rất cụ thể.
Và những việc đó có ích cho cả đàn mình nuôi lẫn đàn hoang quanh vùng.
Giữ lại cây già, nhất là cây có hốc. Đó là chỗ làm tổ chính của đàn hoang.
Giữ thực bì ở góc vườn và bờ rào. Lớp hoa nền này nuôi cả đàn nuôi lẫn đàn hoang trong những tháng không có gì khác.
Hạn chế phun thuốc. Nếu buộc phải phun thì phun cục bộ chỗ có sâu bệnh, và phun sau khi ong đã về.
Trồng bổ sung cây cho hoa, ưu tiên loại nở vào tháng 1 đến tháng 3.
Bốn việc này gần như không tốn gì và có kết quả thấy được sau một hai mùa.
| Việc | Có ích cho | Chi phí |
|---|---|---|
| Giữ cây già có hốc | Đàn hoang có chỗ trú | Không |
| Giữ thực bì góc vườn | Cả đàn nuôi lẫn đàn hoang | Không |
| Phun thuốc cục bộ, đúng giờ | Giảm rủi ro cho đàn | Ít |
| Trồng cây cho hoa | Nguồn ăn quanh năm | Ít |
| Để nguồn nước tự nhiên | Đàn đỡ đi xa | Không |
| Trồng cây thân gỗ | Nguồn nhựa cây | Ít |
Đây không phải việc làm vì môi trường chung rồi mình chịu thiệt.
Giữ thực bì thì đàn nuôi cũng có thêm nguồn nền, nhất là trong tháng 1 đến tháng 3.
Giữ cây già thì có bóng mát cho khu đặt tổ và nguồn nhựa cây cho đàn.
Hạn chế thuốc thì đàn ít gặp rủi ro hơn.
Nghĩa là mọi việc trong danh sách trên đều mang lại lợi ích trực tiếp, chứ không chỉ là đóng góp cho ai đó.
Lo ngại chính đáng: giữ thực bì thì vườn trông bừa bộn.
Cách dung hoà là giữ có chọn lọc. Dọn sạch lối đi, sân, và vòng nửa mét quanh mỗi thùng. Còn góc vườn, bờ rào, dưới tán cây lớn thì để nguyên.
Làm vậy thì vườn vẫn gọn ở những chỗ nhìn thấy, mà nguồn nền vẫn còn.
Ở Ong Dú Bản Địa, lịch phát quang được sắp vào đầu tháng 5 đến tháng 11, khi ngoài kia đã có nhiều nguồn khác, thay vì làm giữa mùa khó.
Ong dú kiếm ăn trong bán kính vài trăm mét, nghĩa là các vườn trong xóm chia nhau cùng một nguồn.
Một nhà giữ thực bì mà cả xóm phun thuốc diệt cỏ thì tác dụng rất hạn chế.
Ngược lại nếu vài nhà cùng giữ thì nguồn nền của cả khu khá lên rõ.
Vì vậy nói chuyện với hàng xóm cũng là một phần của việc này, dù nghe có vẻ không liên quan tới kỹ thuật nuôi.
Với nguồn hoa nền thì nhanh: một mùa mưa sau khi ngừng phát trụi là đã khác.
Với cây trồng bổ sung thì tuỳ loại, từ vài tháng tới vài năm.
Với chỗ làm tổ cho đàn hoang thì lâu hơn và khó đo, vì phụ thuộc cả vùng chứ không riêng vườn mình.
Nhưng ngay cả khi không đo được thì bốn việc trên vẫn đáng làm, vì chúng có lợi trực tiếp cho đàn nuôi.
Giữ có chọn lọc ở góc vườn và bờ rào thì không ảnh hưởng mấy.
Với nguồn hoa nền thì một mùa mưa là đã khác.
Có nhưng hạn chế. Nên trao đổi với họ về lịch phun.
Làm chỗ trú cho đàn hoang, cho bóng mát và cho nguồn nhựa cây.
Đầu tháng 5 đến tháng 11, khi ngoài kia đã có nhiều nguồn hoa khác.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Cái tên ong dú thực ra gộp chung nhiều loài khác nhau. Vì sao điều này lại quan trọng với cả người định nuôi lẫn người đi mua tổ.
Không cần dụng cụ gì vẫn nhận ra được khác biệt giữa các loài. Những dấu hiệu quan sát được ngay ở cửa tổ và trên con ong.
Loài đã sống ở vùng mình từ lâu có những lợi thế mà loài mang từ nơi khác tới không thể có. Lý do đằng sau và cách chọn cho đúng.
Kích thước con ong kéo theo nhiều khác biệt khác: nguồn hoa khai thác được, sản lượng thu về, và cả cách chăm sóc hằng ngày.
Bên trong tổ thì mỗi loài sắp xếp theo một kiểu riêng. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới cách thu mật và cách chọn thùng nuôi.
Có loài rất hiền, có loài bu nhiều khi bị động tới tổ. Những khác biệt về tập tính mà người nuôi nên biết trước khi bắt đầu.
Các loài ong dú bản địa Việt Nam: đặc điểm nhận dạng, phân bố theo vùng, tập tính khác nhau giữa các loài, loài nào hợp nuôi lấy mật và loài nào chỉ nên giữ giống. Thiên về kiến thức loài và sinh học.