Người mới thường hỏi nên nuôi loài nào. Câu trả lời ngắn: loài phổ biến ngay tại vùng mình ở.
Nhưng có mấy tiêu chí cụ thể hơn để cân nhắc.
Một: loài đó có sẵn ở vùng mình không. Loài bản địa đã thích nghi với hai mùa rõ rệt, nắng gắt trong mùa khô và nguồn hoa tại chỗ.
Hai: có ai nuôi thành công gần đó không. Có người để hỏi là lợi thế lớn nhất trong năm đầu.
Ba: nguồn giống có dễ kiếm không. Mua gần thì đàn đỡ phải thích nghi, giá cũng hợp lý hơn.
Bốn: sản lượng ra sao. Tiêu chí này quan trọng nhưng đứng cuối, vì ba tiêu chí trên quyết định đàn có sống được hay không.
| Tiêu chí | Mức ưu tiên | Cách kiểm |
|---|---|---|
| Có sẵn ở vùng mình | Cao nhất | Hỏi người nuôi trong xã |
| Có người nuôi thành công gần đó | Rất cao | Tìm hiểu trong vùng |
| Nguồn giống dễ kiếm | Cao | Hỏi các trại quanh vùng |
| Hợp với nguồn hoa quanh nhà | Cao | Đi một vòng đếm hoa |
| Sản lượng | Vừa | Hỏi người nuôi cùng loài |
| Tính hiền, dễ thao tác | Vừa | Xem thử khi đi thăm trại |
Con số sản lượng của một loài thường đo ở vùng gốc của chúng, trong điều kiện thuận lợi.
Mang về vùng khác, cùng loài đó có thể cho ít hơn hẳn, hoặc thậm chí không sống nổi.
Trong khi loài bản địa dù sản lượng khiêm tốn hơn trên giấy thì lại cho kết quả thật ổn định.
Người mới chạy theo con số sản lượng thường mất đàn trong năm đầu, rồi mới hiểu ra điều này.
Đi thăm một hai trại trong vùng. Xem họ nuôi loài gì và hỏi vì sao chọn loài đó.
Hỏi người nuôi lâu năm: ở đây loài nào dễ sống nhất, loài nào từng thử mà không được.
Đi một vòng bán kính vài trăm mét quanh nhà, xem nguồn hoa chủ yếu là loại gì.
Và tìm hiểu nguồn giống: quanh đây ai bán, giá thế nào, có tổ đã ổn định không.
Bốn việc này làm trong một hai buổi, mà quyết định được cả năm đầu.
Ở một số nơi có nhiều loài cùng tồn tại, và cả hai đều nuôi được.
Lúc đó chọn theo nguồn giống dễ kiếm hơn và theo loài mà người quanh đó nuôi nhiều hơn.
Không cần cân nhắc quá lâu. Cả hai đều là lựa chọn hợp lý, và điều quyết định vẫn là cách chăm.
Có thể thử cả hai sau này, khi đã có kinh nghiệm, bằng cách đặt tách khu.
Mua hai ba tổ đã ổn định của loài đó, từ nguồn gần nhất.
Nhận vào đầu tháng 5 đến tháng 11 để đàn có mấy tháng hoa trước khi gặp tháng 1 đến tháng 3 đầu tiên.
Ghi rõ loài trong sổ theo dõi, nhất là nếu sau này định nuôi thêm loài khác.
Và nuôi trọn một năm với loài đó trước khi tính chuyện mở rộng hay thử loài mới.
Ở Ong Dú Bản Địa, người mới luôn được khuyên bắt đầu với loài thân nhỏ màu đen, làm tổ trong hốc cây và vách tường cũ.
Loài phổ biến ngay tại vùng mình ở.
Tuỳ vùng. Con số của một loài thường đo ở vùng gốc của chúng.
Không nên. Nuôi trọn một năm với một loài rồi hãy tính.
Hỏi người nuôi trong xã và đi thăm một hai trại gần đó.
Bắt đầu với loài thân nhỏ màu đen, làm tổ trong hốc cây và vách tường cũ và mua từ nguồn gần nhất.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Cái tên ong dú thực ra gộp chung nhiều loài khác nhau. Vì sao điều này lại quan trọng với cả người định nuôi lẫn người đi mua tổ.
Không cần dụng cụ gì vẫn nhận ra được khác biệt giữa các loài. Những dấu hiệu quan sát được ngay ở cửa tổ và trên con ong.
Loài đã sống ở vùng mình từ lâu có những lợi thế mà loài mang từ nơi khác tới không thể có. Lý do đằng sau và cách chọn cho đúng.
Kích thước con ong kéo theo nhiều khác biệt khác: nguồn hoa khai thác được, sản lượng thu về, và cả cách chăm sóc hằng ngày.
Bên trong tổ thì mỗi loài sắp xếp theo một kiểu riêng. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới cách thu mật và cách chọn thùng nuôi.
Có loài rất hiền, có loài bu nhiều khi bị động tới tổ. Những khác biệt về tập tính mà người nuôi nên biết trước khi bắt đầu.
Các loài ong dú bản địa Việt Nam: đặc điểm nhận dạng, phân bố theo vùng, tập tính khác nhau giữa các loài, loài nào hợp nuôi lấy mật và loài nào chỉ nên giữ giống. Thiên về kiến thức loài và sinh học.