Nhiều người nuôi nói việc mình làm cũng là góp phần giữ giống. Có phần đúng, nhưng không hoàn toàn.
Nói cho rõ thì tốt hơn, vì cách nghĩ ảnh hưởng tới cách làm.
Làm tăng tổng số đàn trong vùng. Mỗi lần tách đàn thành công là thêm một đàn.
Giữ được dòng bản địa ở những nơi mà đàn hoang đã hiếm.
Tạo ra nguồn giống để người khác mua, thay vì họ phải đi bắt tổ hoang.
Và làm nhiều người quan tâm tới ong dú hơn, kéo theo việc họ giữ vườn tốt hơn.
Bốn điều này đều là đóng góp thật.
| Việc | Giúp quần thể tự nhiên | Ghi chú |
|---|---|---|
| Nhân đàn từ đàn nuôi | Có, tăng số đàn | Đóng góp rõ |
| Bán tổ cho người khác | Có, giảm việc bắt tổ hoang | Đóng góp gián tiếp |
| Giữ vườn có nguồn hoa | Có, lợi cho cả đàn hoang | Đóng góp rõ |
| Bắt tổ hoang về nuôi | Không, làm giảm | Nên tránh |
| Nhập loài lạ vào vùng | Có thể có hại | Nên tránh |
| Nuôi quá dày một chỗ | Có thể tranh nguồn với đàn hoang | Cần cân nhắc |
Đàn nuôi sống trong thùng, ở chỗ do người chọn, và được chăm sóc. Đó là điều kiện khác hẳn đàn hoang.
Quần thể hoang có vai trò riêng trong hệ sinh thái mà đàn nuôi không thay thế được: chúng làm tổ ở những nơi tự nhiên, phân bố rải rác, và duy trì đa dạng di truyền theo cách riêng.
Ngoài ra đàn nuôi thường tập trung vào một số dòng được chọn lọc, còn quần thể hoang thì đa dạng hơn nhiều.
Vì vậy nuôi nhiều không có nghĩa là quần thể hoang không cần được giữ.
Có người lấy lý do bảo tồn để đi bắt tổ hoang về nuôi, nghĩ rằng như vậy là cứu chúng.
Thực tế thì ngược lại. Cách lấy phổ biến thường phá vỡ cấu trúc tổ và đàn không sống nổi.
Ngay cả khi sống được thì đó cũng là một đàn bị chuyển từ tự nhiên vào thùng, tức là quần thể hoang giảm đi một.
Nếu thật sự muốn góp phần thì mua tổ đã nhân giống và để đàn hoang yên.
Giữ môi trường quanh nhà: cây già, thực bì, hạn chế thuốc.
Không bắt tổ hoang, và khuyên người khác cũng vậy.
Nhân giống từ đàn nuôi và bán lại, để người mới có nguồn mà không phải vào rừng.
Ghi lại những gì quan sát được về đàn hoang trong vùng.
Bốn việc này thiết thực hơn nhiều so với việc gọi tên hoạt động của mình là bảo tồn.
Với người bán tổ thì cách nói cũng quan trọng.
Nói rằng trại nhân giống từ đàn nuôi và không bắt tổ hoang là nói đúng sự thật, và cũng là điều khách quan tâm.
Nói rằng mua tổ của mình là góp phần bảo tồn thì hơi quá, trừ khi giải thích rõ cơ chế.
Ở Ong Dú Bản Địa, cách nói được giữ đúng mức: trại nhân giống tại chỗ, không lấy tổ hoang, và đó là toàn bộ những gì trại làm được.
Có phần đóng góp, nhưng không thay được việc giữ quần thể hoang.
Ngược lại. Cách lấy phổ biến thường làm đàn không sống nổi.
Giữ môi trường quanh nhà và không lấy tổ hoang.
Nếu nuôi quá dày một chỗ thì có thể tranh nguồn hoa với đàn hoang quanh đó.
Nhân từ đàn nuôi trong vùng, không bắt tổ hoang.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Tách sớm là cách chắc chắn mất cả hai bên. Những dấu hiệu cho biết đàn đã đủ sức và thời điểm nào trong năm thì hợp để tách.
Chuẩn bị những gì, làm vào lúc nào và chia theo tỉ lệ ra sao. Quy trình từng bước mà Ong Dú Bản Địa đang áp dụng cho mỗi lần tách.
Mốc thời gian cần nhớ và dấu hiệu tương ứng ở từng mốc. Cách biết được bên nào có chúa mà không cần phải mở thùng ra tìm.
Nhân quá nhanh thì cả dòng đi xuống, nhân chậm thì lâu có quy mô. Cách cân bằng để trại lớn dần mà đàn vẫn giữ được sức.
Không phải đàn nào đang đông quân cũng nên đem nhân. Tiêu chí chọn đàn mẹ và vì sao việc này cần có sổ ghi chép ngay từ đầu.
Ghép là cách giữ lại phần quân còn sót của một đàn không cứu được. Điều kiện cần có, cách làm từng bước và những gì cần tránh.
Các loài ong dú bản địa Việt Nam: đặc điểm nhận dạng, phân bố theo vùng, tập tính khác nhau giữa các loài, loài nào hợp nuôi lấy mật và loài nào chỉ nên giữ giống. Thiên về kiến thức loài và sinh học.