Kỹ thuật tách đàn học được trong vài mùa. Thứ mất nhiều năm hơn là cách nghĩ.
Nhìn lại thì cái đổi nhiều nhất không nằm ở tay nghề.
Năm đầu ai cũng khoe được bao nhiêu tổ. Số tổ là thước đo duy nhất trong đầu.
Sau một mùa khó mất mấy đàn thì hiểu số tổ không nói lên gì. Ba mươi tổ mỏng không bằng mười lăm tổ dày.
Bây giờ nhìn trại thì nhìn có bao nhiêu đàn đã qua một mùa khó mà vẫn khoẻ.
Thay đổi này kéo theo mọi thứ khác: tách ít hơn, thu ít hơn, mà cuối cùng lại được nhiều hơn.
| Cách nghĩ | Năm đầu | Bây giờ |
|---|---|---|
| Thước đo | Tổng số tổ | Số đàn khoẻ qua mùa khó |
| Tách đàn | Tối đa có thể | Chỉ đàn dư sức rõ ràng |
| Đàn mẹ | Đàn nào cũng tách được | Chọn lọc từ vài đàn tốt |
| Kinh nghiệm | Giữ cho riêng mình | Chia sẻ trong vùng |
| Tầm nhìn | Vụ này, năm này | Mười năm tới |
| Khi mất đàn | Đổ cho thời tiết | Lần lại sổ tìm nguyên nhân |
Ban đầu thấy đàn nào đủ sức là tách, vì mỗi lần tách là thêm một tổ.
Sau vài năm thì thấy hậu quả: cả trại toàn đàn đã bị chia, không đàn nào đạt tới sức tối đa.
Bây giờ mỗi năm chỉ tách một phần, và luôn giữ lại vài đàn nguyên.
Số tổ tăng chậm hơn nhưng đàn nào cũng khoẻ, và tổng mật lại nhiều hơn trước.
Đây là thay đổi khó chấp nhận nhất, vì nó đi ngược cảm giác tiến bộ.
Lúc đầu ngại nói về kỹ thuật, sợ người khác làm theo rồi cạnh tranh.
Sau thì thấy lo đó không có cơ sở: nguồn hoa quanh mỗi vườn khác nhau nên không ai làm giống ai hoàn toàn.
Ngược lại, khi nhiều người trong vùng cùng nuôi tốt thì cả vùng được lợi: nguồn giống dồi dào hơn, người mới không bỏ cuộc, và tên mật vùng dần được biết tới.
Bây giờ chia sẻ được gì thì chia sẻ, kể cả những lần thất bại.
Năm đầu nghĩ về vụ này: mùa này thu được bao nhiêu, tách được mấy đàn.
Bây giờ nghĩ về việc mười năm nữa trại có còn không, và vùng này có còn nuôi được không.
Câu hỏi đó dẫn tới những việc mà trước đây không nghĩ tới: giữ thực bì, trồng cây thân gỗ, nói chuyện với hàng xóm về lịch phun thuốc.
Những việc đó không cho kết quả ngay, nhưng chúng quyết định trại còn hay mất về lâu dài.
Trại chỉ nhân giống từ đàn trong vùng, không nhập giống từ nơi khác và không bắt tổ hoang.
Có một thứ không đổi qua các năm: nghề này không ép được.
Đàn lên theo nhịp hoa, không theo ý mình. Nhân giống theo sức đàn, không theo kế hoạch trên giấy.
Ai cố đi nhanh hơn nhịp tự nhiên thì thường trả giá.
Vì vậy nếu chỉ được giữ một bài học từ nhiều năm nhân giống thì đó là: kiên nhẫn, và tôn trọng nhịp của đàn.
Từ đếm số tổ sang nhìn số đàn khoẻ đã qua mùa khó.
Rất ít, vì nguồn hoa quanh mỗi vườn khác nhau.
Vì đàn không bị chia liên tục thì mới đạt được sức tối đa.
Thường sau khi trải qua một mùa khó mất nhiều đàn.
Nghề này không ép được, phải tôn trọng nhịp của đàn.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Tách sớm là cách chắc chắn mất cả hai bên. Những dấu hiệu cho biết đàn đã đủ sức và thời điểm nào trong năm thì hợp để tách.
Chuẩn bị những gì, làm vào lúc nào và chia theo tỉ lệ ra sao. Quy trình từng bước mà Ong Dú Bản Địa đang áp dụng cho mỗi lần tách.
Mốc thời gian cần nhớ và dấu hiệu tương ứng ở từng mốc. Cách biết được bên nào có chúa mà không cần phải mở thùng ra tìm.
Nhân quá nhanh thì cả dòng đi xuống, nhân chậm thì lâu có quy mô. Cách cân bằng để trại lớn dần mà đàn vẫn giữ được sức.
Không phải đàn nào đang đông quân cũng nên đem nhân. Tiêu chí chọn đàn mẹ và vì sao việc này cần có sổ ghi chép ngay từ đầu.
Ghép là cách giữ lại phần quân còn sót của một đàn không cứu được. Điều kiện cần có, cách làm từng bước và những gì cần tránh.
Các loài ong dú bản địa Việt Nam: đặc điểm nhận dạng, phân bố theo vùng, tập tính khác nhau giữa các loài, loài nào hợp nuôi lấy mật và loài nào chỉ nên giữ giống. Thiên về kiến thức loài và sinh học.