Vài năm gần đây nghề nuôi ong dú phát triển nhanh: nhiều người nuôi hơn, nhiều nơi bán tổ hơn, mật được biết tới nhiều hơn.
Phát triển nhanh thì kéo theo cả cơ hội lẫn rủi ro, và có mấy thứ đáng chuẩn bị từ bây giờ.
Bán tổ chưa đủ tuổi: khi nhu cầu vượt nguồn cung, nhiều nơi bán tổ vừa tách. Người mua mất đàn, rồi bỏ cuộc và mang tiếng cho cả nghề.
Áp lực lên đàn hoang: giá tổ lên thì có người đi bắt tổ hoang về bán. Quần thể tự nhiên giảm nhanh hơn.
Thông tin sai lan rộng: nhu cầu tăng kéo theo nhiều nội dung quảng cáo quá đà, nhất là về công dụng của mật.
Ba rủi ro này đều đã thấy dấu hiệu ở một số nơi.
| Xu hướng | Cơ hội | Rủi ro đi kèm |
|---|---|---|
| Nhiều người nuôi hơn | Cộng đồng lớn hơn | Nhiều tổ non được bán ra |
| Giá tổ lên | Người nuôi có thu nhập | Áp lực lên đàn hoang |
| Mật được biết tới nhiều | Đầu ra tốt hơn | Quảng cáo quá đà |
| Nhiều thông tin trên mạng | Dễ học hơn | Thông tin sai lan nhanh |
| Đô thị hoá, chuyên canh | Mất môi trường sống |
Mọi rủi ro khác đều xử lý được ở quy mô cá nhân hoặc cộng đồng nhỏ.
Nhưng nếu nguồn hoa và chỗ làm tổ tiếp tục mất đi thì mọi cố gắng khác đều hạn chế.
Ong dú phụ thuộc vào cảnh quan quanh nhà nhiều hơn bất kỳ yếu tố nào khác.
Vì vậy việc giữ thực bì, giữ cây già, hạn chế thuốc ở quy mô làng xã có ý nghĩa lâu dài hơn mọi kỹ thuật nuôi.
Với người nuôi: giữ nguyên tắc chỉ bán tổ đủ tuổi, không bắt tổ hoang, và nói thật về sản lượng.
Với người mua: hỏi kỹ nguồn gốc, chọn nơi minh bạch thay vì nơi rẻ nhất.
Với cả hai: ghi chép và chia sẻ, vì kiến thức về ong dú ở Việt Nam còn nhiều khoảng trống.
Và với vùng: giữ môi trường, vì đó là nền của mọi thứ.
Ong dú không nhân nhanh được, không chuyển đàn theo mùa hoa được, và sản lượng thì có giới hạn tự nhiên.
Nghĩa là đây không phải nghề để làm quy mô lớn nhanh chóng.
Ai cố đi nhanh thì thường mất đàn, mất khách, hoặc cả hai.
Ngược lại làm chậm mà chắc thì nghề này bền: đàn khoẻ dần, khách quen dần, và nguồn hoa quanh nhà cũng tốt lên theo năm.
Trại chỉ nhân giống từ đàn trong vùng, không nhập giống từ nơi khác và không bắt tổ hoang.
Khó đoán, nhưng có mấy thứ khá chắc.
Nhu cầu về mật ong dú sẽ vẫn cao hơn nguồn cung, vì sản lượng có giới hạn tự nhiên.
Vùng nào giữ được môi trường thì vẫn nuôi được, vùng nào mất thì không.
Và những trại làm tử tế, ghi chép đầy đủ, có khách quen thì vẫn ở đó, còn những nơi chạy theo số lượng thì thường không.
Ở Ong Dú Bản Địa, cách nghĩ là làm sao để mười năm nữa vẫn còn làm được, chứ không phải làm sao để năm nay bán được nhiều nhất.
Có, nhưng phụ thuộc nhiều vào việc giữ được môi trường trong vùng.
Mất nguồn hoa và chỗ làm tổ trong vùng.
Vì ong dú không nhân nhanh được và sản lượng có giới hạn tự nhiên.
Khảo sát nguồn hoa quanh nhà, mua tổ đủ tuổi, và ghi chép từ đầu.
Làm sao để mười năm nữa vẫn còn làm được, thay vì bán được nhiều nhất năm nay.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Tách sớm là cách chắc chắn mất cả hai bên. Những dấu hiệu cho biết đàn đã đủ sức và thời điểm nào trong năm thì hợp để tách.
Chuẩn bị những gì, làm vào lúc nào và chia theo tỉ lệ ra sao. Quy trình từng bước mà Ong Dú Bản Địa đang áp dụng cho mỗi lần tách.
Mốc thời gian cần nhớ và dấu hiệu tương ứng ở từng mốc. Cách biết được bên nào có chúa mà không cần phải mở thùng ra tìm.
Nhân quá nhanh thì cả dòng đi xuống, nhân chậm thì lâu có quy mô. Cách cân bằng để trại lớn dần mà đàn vẫn giữ được sức.
Không phải đàn nào đang đông quân cũng nên đem nhân. Tiêu chí chọn đàn mẹ và vì sao việc này cần có sổ ghi chép ngay từ đầu.
Ghép là cách giữ lại phần quân còn sót của một đàn không cứu được. Điều kiện cần có, cách làm từng bước và những gì cần tránh.
Các loài ong dú bản địa Việt Nam: đặc điểm nhận dạng, phân bố theo vùng, tập tính khác nhau giữa các loài, loài nào hợp nuôi lấy mật và loài nào chỉ nên giữ giống. Thiên về kiến thức loài và sinh học.